Phòng 2404, Tòa nhà 16B Nguyễn Thái Học

Trung tâm hỗ trợ Học sinh, Sinh viên

Giới thiệu

Tin tức

Tuyển sinh

Bảng hóa trị hóa học lớp 7, lớp 8, lớp 9, lớp 10

Hóa trị là gì?

Khả năng kết hợp của các nguyên tử hoặc phân tử được đo bằng hóa trị. Kết quả là, khả năng nguyên tử của một nguyên tố đơn lẻ phản ứng và kết hợp với số lượng nguyên tử cụ thể từ một nguyên tố khác. Khả năng kết hợp của một nguyên tố với các nguyên tử khác khi nó tạo thành các hợp chất hóa học của phân tử được đo bằng hóa trị của nó.

Các electron trong nguyên tử được tổ chức thành các quỹ đạo (vỏ) được ký hiệu bằng các chữ cái như K, L, M, N, v.v. Các electron ở lớp vỏ/quỹ đạo ngoài cùng của nguyên tử được gọi là electron hóa trị. Bởi vì quỹ đạo ngoài cùng thường chứa nhiều năng lượng hơn các electron ở các quỹ đạo khác nên các electron hóa trị tham gia vào bất kỳ phản ứng hóa học nào.

Theo sơ đồ Bohr-bury, quỹ đạo ngoài cùng của một nguyên tử có thể có tới 8 electron. Tuy nhiên, khi quỹ đạo ngoài cùng được lấp đầy hoàn toàn, nguyên tố này thể hiện rất ít hoặc không có hoạt động hóa học. Khả năng kết hợp của chúng trở nên không đáng kể hoặc không tồn tại.

Quy tắc bát tử Octet

Khi lớp vỏ ngoài cùng của nguyên tử có tổng cộng 8 electron thì nguyên tử đó được gọi là đã hoàn thành một octet. Để có được một octet hoàn chỉnh, một nguyên tử phải tăng, giảm hoặc chia sẻ một số lượng electron cụ thể từ quỹ đạo ngoài cùng của nó. Do đó, công suất của nguyên tử là tổng số electron thu được, mất đi hoặc chia sẻ ở nguyên tử ngoài cùng để hoàn thành việc sắp xếp octet của nó. Hóa trị của một nguyên tử cũng được xác định bởi giá trị của nó.

Bởi vì quỹ đạo ngoài cùng của chúng được lấp đầy hoàn toàn nên khí trơ ít phản ứng nhất. Mặt khác, khả năng phản ứng của các nguyên tố khác được xác định bởi khả năng hình thành cấu hình khí hiếm của chúng. Nó cũng sẽ hỗ trợ trong việc xác định hóa trị của nguyên tử.

Ví dụ, vì hydro có một electron ở quỹ đạo ngoài cùng nên nó phải mất một electron để đạt được sự ổn định octet. Kết quả là hydro có hóa trị 1. Tương tự, magiê có hai electron ở quỹ đạo ngoài cùng mà nó phải mất đi để đạt được octet và độ ổn định. Kết quả là magie có hóa trị 2.

Ví dụ về hóa trị của một vài nguyên tố

Hóa trị của Natri

Natri có số nguyên tử 11 (Z=11). 2, 8, 1 là cấu hình electron của natri. Trong các lớp K, L và M, 2, 8, 1 electron được phân bố. Kết quả là natri có một electron hóa trị và phải mất một electron ở quỹ đạo ngoài cùng để đạt được octet. Kết quả là natri có hóa trị 1.

Hóa trị của clo

Clo có số nguyên tử 17 (Z=17). Cấu hình điện tử của clo được viết là 2, 8, 7. Trong các lớp K, L và M, 2, 8, 7 electron được phân bố. Kết quả là electron hóa trị của clo là 7 và nó cần thu được một electron từ quỹ đạo ngoài cùng để đạt tới octet. Kết quả là clo có hóa trị 1.

Cách tính hóa trị của một nguyên tố

1) Quy tắc bát tử

Nếu bảng tuần hoàn không thể được sử dụng để xác định hóa trị thì quy tắc bát tử sẽ được sử dụng. Quy tắc này nêu rõ rằng các nguyên tử của một nguyên tố hoặc hóa chất có xu hướng tăng hoặc giảm 8 electron ở quỹ đạo ngoài cùng của chúng ở bất kỳ dạng hợp chất nào mà chúng có mặt. Ở quỹ đạo ngoài cùng, một nguyên tử có thể có tới 8 electron. Độ ổn định của nguyên tử được xác định bởi sự có mặt của 8 electron ở lớp vỏ ngoài cùng của nó.

Nếu một nguyên tử có từ một đến bốn electron ở quỹ đạo ngoài cùng thì nó có nhiều khả năng bị mất chúng hơn. Hóa trị dương đạt được khi một nguyên tử nhường các electron tự do của nó. Nếu một nguyên tử có từ 4 đến 7 electron ở quỹ đạo ngoài cùng thì nó sẽ thu thêm electron. Trong những trường hợp như vậy, việc chấp nhận thay vì cho đi một điện tử là thích hợp hơn. Kết quả là hóa trị được tính bằng cách trừ đi số electron từ 8. Ngoại trừ helium, tất cả các khí hiếm đều có tám electron ở quỹ đạo ngoài cùng của chúng. Ở quỹ đạo ngoài cùng của nó, helium có hai electron.

2) Sử dụng bảng tuần hoàn

Bảng tuần hoàn hóa học được sử dụng để tính hóa trị trong phương pháp này. Ví dụ: tất cả các kim loại trong cột 1 đều có hóa trị +1, bao gồm hydro, lithium, natri, v.v. Tương tự, tất cả các nguyên tố ở cột 17 đều có hóa trị -1, chẳng hạn như flo và clo. Cột 18 chứa tất cả các khí hiếm. Những phần tử này có hóa trị bằng 0 và trơ.

Tuy nhiên, có một ngoại lệ đối với phương pháp xác định hóa trị này. Ví dụ, đồng, sắt và vàng có nhiều lớp vỏ hoạt động. Sự khác biệt này dễ nhận thấy nhất ở các kim loại chuyển tiếp từ cột 3 đến cột 10. Nó cũng được tìm thấy trong các nguyên tố nặng hơn như lanthanide (57-71) và Actinide (cột 11-14).

Bảng hóa trị hóa học lớp 7, lớp 8, lớp 9, lớp 10

Bảng hóa trị là công cụ quan trọng để học sinh, giáo viên và các nhà khoa học tham khảo hóa trị của các nguyên tố. Có rất nhiều nguyên tố hóa học và việc nhớ hết hóa trị của chúng là rất khó khả thi. Dưới đây tôi liệt kê hóa trị của 30 nguyên tố hóa học thường gặp nhất ở một bảng ngắn gọn và dễ hiểu.

Bài viết liên quan:

The author

Johnny Levanier
Lê Ngọc
Lê Ngọc có bằng B.A. về Viết sáng tạo và Truyền thông. Ban ngày, người ta có thể bắt gặp anh ấy làm việc tại TPHCM, đi khắp nơi, xem nhạc sống hoặc chơi trò chơi điện tử. Đến tối, anh ngủ. Twitter @lengoc91

Tags

Any comments?

Something went wrong posting the comment. Retry again

Copyright 2020 © sotaytuyensinh.vn